Để sản phẩm đáp ứng được thị trường...

Viewed: 13,423

Làm gì để giải bài toán đào tạo gắn với nhu cầu xã hội? Các nhà giáo dục, nhà quản lý và chuyên gia kinh tế đã lên tiếng chia sẻ những kinh nghiệm...

* TS LÊ ĐĂNG DOANH:

Từ 2-5% chi phí sản xuất đầu tư cho giáo dục

Tôi cho rằng công tác dự báo về thị trường lao động dài hạn, dự báo lớn vẫn có thể làm. Nhưng Nhà nước cần phải tập trung dự báo trung hạn trong vài ba năm. Đấy là dự báo rất cần thiết cho các trường giáo dục đào tạo. Phải củng cố và làm tốt hơn nữa hoạt động dự báo trung hạn, công bố công khai tỉ lệ người học kiếm được công ăn việc làm ở từng ngành nghề khác nhau.

Thời gian qua, nhiều học sinh đổ xô vào các ngành học như luật, tài chính, ngân hàng... nhưng thật sự tỉ lệ kiếm được việc làm rất thấp. Vì không có thông tin, họ cứ nghĩ rằng nhảy vào lĩnh vực đó sẽ làm việc được. Tôi đề nghị xem rõ và công bố công khai là học tại một trường đại học X ở TP.HCM thì tỉ lệ về ngành công nghệ thông tin kiếm được việc làm là bao nhiêu, luật là bao nhiêu...

Đối với các doanh nghiệp, nhiều đơn vị có qui mô rất nhỏ bé, quản trị theo kiểu “thuận tiện”, nghĩa là không có chiến lược gì cả. Thậm chí một số doanh nghiệp khá lớn cũng rơi vào tình trạng này. Họ không có chiến lược kinh doanh, không có chiến lược về nhân lực. Vì vậy, khi các trường ĐH đến đặt vấn đề liên kết đào tạo thì rất khó khăn.

Bên cạnh đó, chi phí dành cho giáo dục đào tạo của các doanh nghiệp rất thấp. Tôi đề nghị nên tính cho doanh nghiệp một khoản chi phí từ 2-5% chi phí sản xuất đầu tư cho giáo dục. Khoản chi phí này tính vào chi phí sản xuất và được trừ vào thuế. Không thể lấy lợi nhuận sau thuế để đầu tư vào giáo dục bởi điều đó sẽ không làm được. Các nước khác trên thế giới đều công nhận chi phí cho giáo dục và nghiên cứu khoa học là chi phí để sản xuất, được miễn thuế.

* PGS-TS THÁI BÁ CẦN (hiệu trưởng Trường ĐH Sư phạm kỹ thuật TP.HCM):

Cần những hội nghị khách hàng


Trong những năm vừa rồi, chúng tôi đã tiến hành nhiều hoạt động gắn kết với các doanh nghiệp, đơn vị sản xuất. Đầu tiên là mô hình liên kết giữa trường với doanh nghiệp và cơ quan nhà nước. Theo đó, những doanh nghiệp này trang bị những thiết bị đang bán bên ngoài cho nhà trường. Nhà trường sử dụng các thiết bị đó và chương trình đào tạo của các doanh nghiệp đó để giảng dạy đào tạo cho khách hàng của doanh nghiệp và sinh viên của trường. Nhờ vậy, những sản phẩm đào tạo của trường có thể làm việc ngay cho doanh nghiệp hay những nơi có sử dụng sản phẩm của doanh nghiệp đó.

Ngoài ra, trường cũng thực hiện việc trở thành đối tác để đào tạo những lao động am hiểu sâu về công nghệ của họ để có thể tham gia sản xuất, vận hành và bảo dưỡng những sản phẩm của doanh nghiệp. Công việc lớn hơn mà chúng tôi đang làm đó là tổ chức những hội nghị khách hàng với sự tham gia của doanh nghiệp cùng những sinh viên thành đạt của trường. Qua đó, trường nắm bắt được những hạn chế, thiếu sót trong chương trình đào tạo để khắc phục, bổ sung.

* TS NGUYỄN MẠNH HÙNG (hiệu trưởng Trường CĐ Kinh tế kỹ thuật nghiệp vụ Nguyễn Tất Thành):

Cái chính là tự thay đổi mình


Bản thân tôi từng làm doanh nghiệp, tôi biết rằng nhu cầu doanh nghiệp là rất lớn. Ví dụ trong ngành dệt may, muốn có một lao động biết về công nghệ dệt may ngắn hạn, doanh nghiệp phải bỏ ra khoảng 1,5 triệu đồng. Khi chúng tôi đào tạo, họ sẵn sàng chi tiền cho chúng tôi mà không cần thu của người học.

Tuy nhiên lâu nay, quan hệ cung cầu lại không gắn với nhau. Trường đào tạo thì cứ đào tạo theo chỉ tiêu; doanh nghiệp thì cứ tuyển dụng theo nhu cầu của mình.

Nhận thức được điều này, về đầu vào, chúng tôi trực tiếp đưa trường học đến học sinh và học sinh đến với trường học. Tương tự như vậy, với đầu ra chúng tôi chủ động đưa trường học đến với doanh nghiệp và đưa doanh nghiệp đến với trường học. Doanh nghiệp giúp chúng tôi lấp được lỗ hổng trong chương trình đào tạo. Chúng tôi biết họ cần thêm những kỹ năng gì để bổ sung đào tạo. Chính sinh viên cũng phát hiện những kỹ năng “mềm” mà mình còn thiếu để rèn luyện thêm.

* TS NGUYỄN THUẤN (phó hiệu trưởng Trường ĐH Mở TP.HCM):

Mấu chốt là thay đổi cơ chế


Theo tôi, nói đáp ứng nhu cầu xã hội không chỉ là đáp ứng theo cơ cấu ngành nghề lao động trong xã hội, mà bên cạnh đó còn có một khía cạnh khác đào tạo thỏa mãn nhu cầu người học. Bởi bản thân một số người học có nhu cầu tiếp thu hệ thống kiến thức, họ không cần tìm kiếm việc làm hoặc đang đi làm. Vì vậy, khi đánh giá nhu cầu xã hội cần bổ sung tiêu chí này.

Riêng mối quan hệ giữa trường và doanh nghiệp, hai bên sẽ làm việc với nhau và xác định những nhu cầu của nhau. Vì vậy, các cơ quan chủ quản nên để các trường được chủ động hơn. Trong khi xã hội yêu cầu chương trình đào tạo phải thích ứng ngay với nhu cầu doanh nghiệp thì doanh nghiệp luôn thay đổi theo yêu cầu của thị trường. Theo tôi, nếu thay đổi cơ chế thì tự nhiên sản phẩm sẽ đáp ứng nhu cầu thị trường. Mấu chốt vẫn là hệ thống chủ trương. Cứ yêu cầu các trường làm đi nhưng không thay đổi cơ chế chính sách thì vẫn không thể nào làm được.

* Thứ trưởng Bộ GD-ĐT BÀNH TIẾN LONG:

Các bên cùng hành động


Trước mắt, các bộ ngành liên quan sẽ xây dựng một cơ sở dữ liệu quốc gia về lao động việc làm. Công tác dự báo cũng sẽ được tiến hành sớm với kế hoạch dự báo trung hạn trong khoảng 2-3 năm. Đồng thời Bộ GD-ĐT sẽ đề xuất Chính phủ để các doanh nghiệp dành từ 3-5% chi phí sản xuất cho việc hỗ trợ giáo dục đào tạo và các chương trình đào tạo lại, đào tạo ngắn hạn trong năm 2008 để giải quyết nhu cầu lao động cũng như giải quyết lực lượng lao động thất nghiệp. Bộ GD-ĐT cũng đề nghị các trường nhanh chóng chuyển sang đào tạo theo học chế tín chỉ, cùng các doanh nghiệp rà soát để hạn chế, thậm chí ngưng các chương trình đào tạo không hiệu quả nhằm nâng cao chất lượng.

Xem thêm cơ hội tìm việc làm mới tại CareerViet :

Source: Theo TTO

VIP jobs ( $1000+ )

logo

Similar posts "Career Development"

Subscribe

Create job alerts. Free and Easy

Create now

Feature Articles

1

2

3

4

5

Feedback